Showing posts with label Nam Định. Show all posts
Showing posts with label Nam Định. Show all posts

Làng Đúc Đồng Tống Xá Nam Định Sống Mãi Với Nghề Xưa




Đúc Đồng Ý Yên Nam Định - Làng Đúc Đồng Tống Xá - Ý Yên

Quý khách đến thành phố Ninh Bình, theo đường quốc lộ 10, qua cầu Non Nước là bước chân vào đất tỉnh Nam Định, từ cầu đi hướng Nam Định khoảng 7 km tới Ngã Ba Cát Đằng có bảng chỉ dẫn thị trấn Lâm, quan khách đi khoảng 3 km là đến trung tâm thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đoạn đường này có một mùi đặc trưng khó quên là mùi tre ngâm dọc con kênh ven đường, vì dân ven đường là vệ tinh sản xuất các sản phẩm tiểu thủ công bằng tre sơn mài như dĩa, khay, lọ cắm hoa, lục bình lớn…các sản phẩm bằng tre này nổi tiếng, được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, bên cạnh đó có một làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên, chuyên cung cấp các sản phẩm đồ gỗ, nội thất.




Đúc đồng Tống Xá Ý Yên - Nam Định



Làng đúc đồng Tống Xá thuộc thị trấn Lâm, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định được xem là một trong những cái nôi của nghề đúc đồng truyền thống ở nước ta. Ngày nay, sản phẩm ở làng nghề đúc đồng truyền thống Tống Xá không chỉ làm giàu cho làng, mà còn trở thành niềm tự hào lớn của cả thành Nam nhờ nhiều năm qua, hàng ngàn các công trình - tác phẩm tượng đồng tầm cỡ quốc gia đã được chính những nghệ nhân trong ngôi làng này thực hiện bằng chính hoa tay, tâm sức của họ.





Các sản phẩm của Ý Yên mang tầm quốc gia



LỊCH SỬ HÌNH THÀNH LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ý YÊN:

Nghề đúc đồng ở Tống Xá, Vạn Điểm gắn với một truyền thuyết. Chuyện rằng, cách đây gần 900 năm, tại Phủ Yên Khánh (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), có ông Nguyễn Chí Thành ngay từ nhỏ đã xuất gia theo hầu Thiền sư Giác Không. Ông là người học rất giỏi, đi nhiều nơi, đem học vấn dạy cho mọi người.

Trong một lần qua Tống Xá, ông đã dạy cho dân làng cách làm khuôn để đúc đồng. Nhiều thế kỷ đã trôi qua, lịch sử cũng nhiều thăng trầm, dâu bể, nhưng nghề đúc đồng vẫn trường tồn như chính chất liệu đanh rắn của nó. Để nhớ công lao của ông, dân làng đã lập đền thờ. Hàng năm, vào giữa tháng 2 âm lịch, làng mở hội để tưởng nhớ công lao người đã truyền nghề, đem lại sự nghiệp cho làng.

Bây giờ trở về Tống Xá, Vạn Điểm(Làng nghề đúc đồng Ý Yên), từ tinh mơ đến tận sẩm tối, đâu đâu cũng gặp hình ảnh những bếp lò đỏ rực lửa. Thật không ngờ, nghề đúc đồng đã nhiều vất vả, hiểm nguy lại cần phải thật tỉ mỉ, tinh xảo mới tạo ra được sản phẩm hoàn hảo. Người thợ đúc phải trải qua rất nhiều công đoạn, từ cách chọn đất xây lò, nhóm lửa, chọn đồng đến làm khuôn, nấu chảy các mẻ đồng… Tất cả phải được thực hiện thận trọng, chuẩn xác để đảm bảo cho sản phẩm không bị vênh và co ngót.


Những Bếp Lò đỏ rực trong làng Tống Xá

MỘT SỐ ĐIỂM NỔI BẬT ĐỒ ĐỒNG TẠI Ý YÊN:

Tay nghề đúc truyền thống của dân làng Tống Xá, hay thị trấn Lâm, Ý Yên, Nam Định rất điêu luyện do có kinh nghiệm lâu năm, truyền thống với nhiều sản phẩm đa dang.
Nghệ nhân đúc đồng tại Ý Yên mạnh dạn học tập đầu tư công nghệ, máy, thiết bị để sáng tạo, đã thành công với nhiều công trình nổi tiếng.
Trí sáng tạo cao, các sản phẩm đồ đồng tại đây luôn có hồn
Người làng nghề và các nghệ nhân nhiệt tình, tiếp thu kiến thức mới, và biết uyển chuyển trong các nghề mới như chạm khảm tam khí, gò đồng, nhuộm màu giả cổ… để sáng tạo ra sản phẩm mới độc đáo.





Những tác phẩm mang tính văn hóa lịch sử:

Thủa xưa, làng Tống Xá & Vạn Điểm(nằm tại Thị trấn Lâm) chỉ đúc những mặt hàng đơn giản như đồ thờ cúng, đỉnh đồng, lư hương. Ngày nay, với sự phát triển của làng nghề, 2 làng nghề này đang ngày càng đa dạng sản phẩm của mình với những bức tượng Phật, danh nhân, lãnh tụ dân tộc, đồ thờ cúng, chuông, tượng, đồ phong thủy bằng đồng tinh xảo bạn có thể tìm thấy các sản phẩm đồ đồng do Ý Yên sản xuất tại đây.

Đặc Sản Nam Định - Nem Nắm Giao Thủy



Nem nắm Xuân Thủy là một món ăn đặc sản của huyện Xuân Thủy ngày xưa, huyện Giao Thủy Và Huyện Xuân Trường ngày nay (trước là huyện Xuân Thủy tỉnh Hà Nam Ninh, sau tách thành 2 huyện Xuân Trường Và Giao Thủy), tỉnh Nam Định, Việt Nam. Nem có 2 loại sống và chín.Nem nắm Xuân Thủy có thành phần làm từ bì lợn (da heo) và thịt nạc mông, thính, đặc biệt là không thể thiếu nước mắm Sa Châu.
Bì lợn làm nem được lựa chọn kỹ càng từ da của những con lợn khỏe mạnh, không quá già hoặc quá non. Sau khi loại bỏ lông và phần mỡ dính dưới da, bì lợn được đem luộc chín tới (nước sôi khoảng 3- 5 phút) để bì vừa dai lại vừa mềm; nếu luộc kỹ bì sẽ bị keo dính ăn không ngon. Bì phải thái mỏng bằng tay, tuyệt đối không dùng bằng máy thái.
Thịt lợn để làm Nem phải là thịt tươi mới, luộc qua nước sôi đến chín tới sau đó được thái mỏng, dần bằng sống dao.
Thính gạo được làm từ thứ gạo ngon nhất của vùng chiêm trũng, nó tạo nên hương vị đặc trưng khác với những vùng khác.
Nước mắm Sa Châu là Thứ nước mắm cũng rất nổi tiếng, nó được làm theo cách cổ truyền, cá được nấu chín tự nhiên, không qua tẩm ướp, sau chừng 6 tháng mới mang ra vắt lấy nước mắm nguyên chất. Sau đó, mắm lại được phơi nắng nóng rồi cho vào vại sành chôn xuống đất thêm 6 tháng nữa. Vậy là phải mất ngót 1 năm, nước mắm Sa Châu mới được mang ra để ăn với Nem nắm.heo một số tài liệu cổ còn để lại, khi nhà Trần chọn phủ Thiên Trường làm kinh đô thứ hai, các làng nghề được hình thành và của ngon vật lạ cả nước đổ về đây để tiến vua. Món nem nắm Xuân Thủy là một đặc sản đã được dân tiến lên vua Trần và phát triển từ thời kỳ này. Đến nay, nem nắm Xuân Thủy được coi là món đặc sản của người dân Nam Định. Nói đến nem nắm Giao Thuỷ không thể không nói tới nem nắm bà Sậu Giao Hải. Món ăn này đã có mặt hầu hết tại TP Nam Định và các tỉnh, thành phố lân cận như Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình. Ngoài ra còn nổi tiếng ở một số xã như xã Giao An, Giao Thanh, Giao Tiến làng Hoành Nha, xã Xuân Kiên, Xuân Tiến làng Kiên Lao, Xã Giao Nhân làng Duyên Sinh (Chợ Bể)Nem được ăn ngay sau khi chế biến mà không để chua như một số loại nem khác, thường được cuộn vào lá sung và lá đinh năng. Nem có thể được chấm với nước mắm chắt mặn,nước mắm tỏi ớt hoặc chấm tương ớt và có thể ăn kèm với rau sống khác.

Khám Phá Nam Định ,Độc Đáo Ngôi Làng Cổ Dịch Diệp



Được hình thành từ đầu TK 11, làng cổ Dịch Diệp xưa kia có tên gọi là Dịch Diệp Trang thuộc huyện Tây Chân – Chấn Sơn Nam, nay thuộc xã Trực Chính – huyện Trực Ninh – tỉnh Nam Định. Làng hình thành theo phong cách chung của làng văn hóa Việt cổ truyền thống với nhiều nét đẹp cổ kính, đi vào lòng người nhiều dấu ấn khó phai.



Đầu làng đến cuối làng đều có cổng làng, có đường đi qua các làng bên. Trải qua thời gian dài, làng cổ Dịch Diệp chỉ còn duy nhất 1 cổng làng phía Nam đứng bên cạnh cây cầu cuốn bắc qua con sông thơ mộng. 

Bên cạnh đó, làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà và cổng nhà cổ, cây Bồ Đề có tuổi đời 700 – 800 năm tuổi. Nó như một minh chứng cho sự tồn tại của làng Dịch Diệp cổ cho đến nay, thể hiện sự sống lâu đời.

luu giu, bao ton ngoi lang co dich diep - 2
Một góc làng cổ Dịch Diệp

Theo các cụ cao niên trong làng, thì Làng cổ Dịch Diệp được hình thành từ thời nhà Lý, dưới thời vua Lý Thái Tổ, thuở ban đầu làng tập chung làm nghề canh nông, sau này mở thêm nghề dệt cửi, lúc này nghề dệt cửi bắt đầu hình thành và phát triển trên vùng đất Dịch Diệp cổ.

Với nghề dệt cửi truyền thống nổi tiếng, tên tuổi của làng đã nhanh chóng được vang xa hơn. Đặc biệt, năm 1947 làng đã may áo chấn thủ gửi tặng bộ đội và may tấm áo lụa gửi tặng Bác Hồ, được Người gửi thư khen.

luu giu, bao ton ngoi lang co dich diep - 3
Một trong những ngôi nhà cổ của làng vẫn còn được lưu giữ

Thế nhưng qua thời gian dài, những nét Việt cổ của làng Dịch Diệp dường như đang phai nhạt theo năm tháng cùng với sự phát triển của xã hội nên nhu cầu công việc của con người cũng thay đổi. Nghề dệt không được trú trọng nhiều bởi thu nhập không cao.

Để bảo tồn và lưu giữ những gì mà làng vẫn còn tồn tại, rất mong các cấp chính quyền cần có những giải pháp thích hợp để lấy lại vẻ đẹp cho làng Việt cổ Dịch Diệp, đồng thời lưu giữ lại nghề dệt đã bao đời nay gắn bó với bà con.

Phủ Dày Nam Định Nét Độc Đáo Kiến Trúc



Hàng năm vào thượng tuần tháng 3 âm lịch, chính hội là 3/3, du khách thập phương nô nức hành hương về với Hội Phủ Dày, nơi thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, người Mẹ linh thiêng của dân tộc Việt Nam. Tục thờ Đức Thánh mẫu có ở khá nhiều nơi như Phố Cát (Thanh Hóa), Đền Sòng (Nghệ An)... Nhưng có lẽ tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nơi Mẫu sinh) là thu hút khách thập phương hơn cả.Du khách trảy hội Phủ Dày vừa để dự ngày giỗ Mẹ, vừa để thỏa nguyện tâm linh và được ngắm nhìn một quần thể kiến trúc lăng chùa truyền thống vô cùng độc đáo.
Hội Phủ Dày thực sự hấp dẫn khách bởi sự đan xen, hòa quyện giữa những nghi thức trang trọng cùng những hoạt động văn hóa dân gian sôi nổi, đặc sắc. Tiêu biểu nhất trong hội Phủ Dày là nghi lễ rước Thánh Mẫu từ phủ chính (Tiên Hương) lên chùa Gôi vào ngày 6/3. Ðám rước Thánh Mẫu dài gần 1 km, rất trang trọng có đội ngũ nhạc, có phường bát âm. Ðến ngày 7/3  sinh hoạt văn hóa "Hoa trượng hội". Ðây là nét độc đáo nhất của lễ hội. Mỗi lần xếp chữ cần khoảng 100 phu cờ, mặc đồng phục, chít khăn đỏ, áo vàng, thắt lưng xanh, quần trắng, xà cạp đỏ. Mỗi người cầm cây gậy dài khoảng 2 mét. Người điều khiển gọi là tổng cờ. Vào cuộc chủ lễ xin Mẫu "ra chữ" sau đó theo nhịp trống chiêng rộn rã xếp thành những dòng chữ nho đầy ý nghĩa.
Hoà trong không khí sinh hoạt văn hóa dân gian, du khách còn được xem rước thỉnh kinh, rước kiệu bát cống long đình, xem múa rồng hội trên núi Tiên Hương.... Và khi màn đêm buông xuống, du khách sẽ được đắm mình trong những điệu Chầu văn tha thiết cùng những đèn trời được thả lung linh sắc mầu huyền ảo. Về với Hội Phủ Dày, du khách như được trở về với cội nguồn dân tộc, bởi nơi đây quy tụ rất nhiều những tinh hpoa văn hóa ngàn đời của dân tộc ta. Và đó còn là một nhu cầu của vẻ đẹp tâm linh trong những ngày đầu năm mới.

Cổ Kính Cầu Ngói Hải Hậu Nam Định



Cầu cách chùa Lương 150 m, nằm trên trục đường gắn liền với chùa, đền thành một cụm di tích. Theo "Quần Anh địa chí", cầu được hình thành cùng thời gian với chùa Lương.
Qua đôi câu đối trên cầu cho thấy Thuỷ Tổ đã quan tâm đến việc bắc cầu ngay từ thời gian đầu tiến hành khẩn hoang: “Lê Hồng Thuận Tứ tính thuỷ mưu giá ốc biệt thành giang thượng lộ”. “Hoàng Khải Định thất niên trùng tấp dư lương y cựu kính trung thê”. Nghĩa là:
 “Đời Hồng Thuận (1509 - 1515) bốn họ tính kế dựng nhà trên cầu, thành đường trên nước”. “Đời Khải Định thứ 7 (1922) tu sửa như cũ, từng bậc xếp lên gương”.

Cầu Ngói
Buổi đầu còn đơn sơ lợp cỏ, đến thế kỷ XVII cầu được tu sửa quy mô hợp với cảnh chùa Phúc Lâm, qua nhiều năm nhưng vẫn mang đậm phong cách kiến trúc cổ truyền Việt Nam, là một di tích độc đáo của trấn Sơn Nam Hạ xưa vàNam Định nay. “Cầu Nam, Chùa Bắc, Đình Đoài”. Cầu Ngói, chợ Lương là một trong ba cây cầu đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.


Óng Ánh Tơ Vàng Nơi Làng Tơ Cổ Chất - Trực Chính - Trực Ninh Nam Định



Đã từ lâu, nghề ươm tơ ở làng Cổ Chất (xã Phương Đình, huyện Trực Ninh, Nam Định) đã đi vào câu ca: “Hỡi cô thắt dải lưng xanh/ Có về Nam Định với anh thì về/ Nam Định có bến Đò Chè/ Có tàu Ngô Khách, có nghề ươm tơ.”

Độc Đáo Bảo Tháp Đại Bi Nghĩa Hưng Nam Định Nơi Địa Linh Nhân Kiệt



Chùa Phúc Lộc (Phúc Lộc Tự) là ngôi chùa cổ nằm Ven sông Đào nay thuộc thôn Hưng Lộc, xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.Chùa được xây dựng vào khoảng năm 1440 hoàn thành khoảng năm 1442. (tính tới nay đã tròn 570 năm). Hiện chùa Phúc Lộc còn đang lưu giữ một số báu vật quý như: Chiếc chuông đồng cổ treo trên gác trước cổng trên có ghi: “Hoàng triều Cảnh Hưng. Vạn Vạn Niên. Chi nhị thập Tam Tuế” (như vậy có thể thấy Quả chuông cổ này được đúc vào năm Cảnh Hưng thứ 13 vào khoảng năm 1762 tính tới nay là 250 năm).Chùa Phúc Lộc có cảnh sắc và không gian thanh tịnh mang đậm chất Phật giáo. Bảo Tháp được thiết kế toạ lạc trong khuôn viên chùa Phúc Lộc nằm giữa 2 cây bồ đề cổ thụ. Mặt chính của Bảo tháp quay về hướng Nam, trước mặt là hồ nước trong xanh hình chữ nhật, dưới hồ được thiết kế một toà tháp với pho tượng Đức Phật Di Lặc là biểu hiện cho Đức Phật trong tương lai có Hoa sen thả xung quanh. Phía bên trái và bên phải Bảo Tháp có hai hồ sen nhỏ được gọi là Thanh Tịnh Hồ, hay còn gọi là Hồ Tẩy Trần. Đây là khu đất đắc địa đầy linh khí như một đặc ân mà trời đất đã dành cho dân chúng trong vùng.Bảo tháp được xây dựng 13 tầng với chiều cao 48m, tượng trưng cho 48 hạnh nguyện của Đức Phật A Di Đà ở nơi thế gian và Phật Quan âm là người đã thực hiện các hạnh nguyện của Đức A Di Đà nơi tại thế với tinh thần ĐẠI BI CHÚ và PHỔ MÔN KINH. Cho nên có thể gọi là BẢO THÁP ĐẠI BI và PHỔ MÔN. Tháp có cấu trúc phía bên ngoài là hình bát giác, 8 cạnh bằng nhau, phân bố theo 8 hướng: Đông – Tây – Nam - Bắc - Đông nam - Đông bắc - Tây nam và Tây bắc.Tầng 1 có 3 cửa chính đi vào được bố trí trên 3 cạnh của bát giác, tại mỗi cửa có hai vị Hộ pháp, Năm cạnh còn lại của mặt bên ngoài là tượng Phật Quan thế âm. Tam Bảo đặt tại (tầng 1) chính giữa thờ Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật trong tư thế đại định, bên trái là ngài Phổ Hiền biểu lộ cho lòng từ bi, bên phải là ngài Văn Thù biểu lộ cho trí tuệ. Mặt ngoài của tháp, từ tầng 2 đến tầng 12 có cấu trúc giống nhau diễn bầy 84 pho tượng Phật trong đàn pháp ĐẠI BI là hóa thân của các chư vị Bồ Tát. ....

                    

Làng Nghề Báo Đáp Nam Định Vào Xuân



Làng hoa lụa Báo Đáp (huyện Nam Trực) nằm cách thành phố Nam Định khoảng chừng 10 km từ bao đời nay có tiếng với nghề làm lồng đèn trung thu và hoa vải lụa.
Báo Đáp hiện có 400 hộ sản xuất và kinh doanh hoa vải lụa lớn nhỏ, trong đó phần lớn là các hộ có truyền thống lâu đời. Sản phẩm của mỗi gia đình có mẫu mã riêng, không trùng lặp. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng của thị trường, các cơ sở sản xuất không ngừng làm mới, thay đổi mẫu mã


           .

Những mẫu hoa mới như phong lan, lan hồ điệp, hoa ly…được khách hàng ưa thích, trong khi đó một số mẫu hoa truyền thống của làng vẫn đảm bảo duy trì sản xuất như: hồng, sen, mai, đào,…Hoa vải lụa không chỉ đáp ứng được những yêu cầu về thẩm mỹ, màu sắc không thua kém gì hoa thật mà còn có giá trị sử dụng lâu dài và có giá cả hợp lý nên ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng.Xác định đây là một trong những nghề truyền thống lâu đời cần được gìn giữ và phát huy nên chính quyền địa phương đã tạo mọi điều kiện cho làng nghề phát triển, mở rộng sản xuất, đầu tư cơ sở máy móc, điện lưới ổn định nhằm phục vụ sản xuất của bà con.
Bằng óc sáng tạo và đôi bàn tay tài hoa những người thợ làng nghề làm hoa lụa Báo Đáp đã tạo nên những sản phẩm mỹ nghệ góp phần làm đẹp cho đời, góp phần giữ gìn nghề truyền thống và phát triển kinh tế địa phương. Người dân Báo Đáp giờ đây đã yên ấm, làm giàu hơn trên chính mảnh đất quê hương mình.
Nguồn tin: http://vietnam.vnanet.vn/

Đi Tìm Nét Cổ Thành Nam -Nam Định




Phố cổ Thành Nam hay phố cổ Nam Định là khu vực gồm các phố xá buôn bán nằm giữa sông Vị Hoàng xưa và hai mặt tường thành phía Đông và phía Nam của thành Nam Định thời Nguyễn. Nếu như Hà Nội xưa có 36 phố phường thì thành phố Nam Định cũng có đến hơn 40 phố cổ.Thành phố Nam Định có bề dày lịch sử hơn 750 năm .  Chợ là nơi tiêu thụ tập trung nhiều hàng hoá, chợ ven sông là chợ Vị Hoàng, chợ Đò Chè, rồi chợ Cửa Trường. Chợ to, đông vui nhất là chợ Rồng, vì thế trên những con đường từ bờ sông vào chợ đã thành nơi sinh sống và sản xuất của các gia đình làm nghề thủ công. Từ chợ Rồng ra bờ sông Vị Hoàng là các phố Hàng Nón, Hàng Khay, Hàng Quỳ, Hàng Tiện (nay là Hàng Tiện), rồi đến Hàng Cấp (dệt các loại vải), Pháp đặt tên đường phố này là Henri Rivière. Ra bờ sông Vị Hoàng còn một đường phố gồm: Hàng Đường và Hàng Đồng hai phố này Pháp dịch là Rue du Cuivre nay là Hàng Đồng. Chợ Rồng lên phía bắc có phố Hàng Mắm, Hàng Gà, về sau hai phố này gọi là phố Móng Cáy (nay là Lý Thường Kiệt). Từ bờ sông vào chân tường thành có một dãy phố chạy song song với Hàng Đồng gồm: Hàng Thùng, Hàng Giấy, Hàng Mành, Hàng Cầm (nay là Bắc Ninh). Về phía nam thành phố, trên bờ sông có các phố bến thuyền như: Bến Củi, Pháp đặt là Rue Champeaux (nay là Ngô Quyền), Bến Gỗ, Pháp đặt là Rue Etat-Unis (nay là Phan Chu Trinh), phố Bến Thóc, Pháp đặt Hacrnamd. Lùi vào phía trong là phố Hàng Nồi, Pháp đặt là Rue de Paris (nay là Nguyễn Thiện Thuật). Song song với bờ sông Đào là phố Hàng Sũ, Hàng Ghế Pháp đặt là Cerculis, (nay là phố Phan Đình Phùng) và phố Hàng Thao Pháp đặt là Đồng Khánh (nay là phố Hàng Thao).
Từ trong thành đi ra sông Vị Hoàng là phố Cửa Đông, Pháp đặt là Rue de Carreau (nay là đoạn đầu từ ngã tư Trần Hưng Đạo đến gốc đa Hàng Sắt phố Lê Hồng Phong). Từ cửa Nam ra sông Đào gọi là phố Cửa Nam, Pháp đặt là Richaud (nay là đường Tô Hiệu), cổng phía bắc thành có phố Cửa Bắc (nay là Thành Chung). Thành Nam có cửa tây, nhưng không có phố Cửa Tây do ở phía này không có sông để vận chuyển hàng hoá (thời ấy giao thông đường thủy là chủ yếu). Về sau phía tây thành cũng không phát triển bởi tư bản Pháp đã chiếm vùng đất phía tây (Năng Tĩnh) để xây nhà máy Sợi.Con đường nối các phố với nhau chạy theo hướng bắc nam từ chợ Rồng xuống sông Đào gồm: Hàng Màn (Vải Màn), Hàng Rượu, Hàng Thiếc, Hàng Đàn, Pháp đặt là Rue France (nay thuộc Hai Bà Trưng) và Hàng Cau đặt là Jules Ferry. Song song với dãy phố này còn một dãy phố nữa gồm: Hàng Mã, Hàng Mũ (năm 1921 Pháp đặt là phố Hà Nội), tiếp đến Hàng Giấy, Phố Khách, Hàng Lọng, Hàng Dầu, Pháp đặt tên cho các phố này là Maréschal Foch (nay thuộc phố Hoàng Văn Thụ).

                             

Các phường buôn, phường nghề ở với nhau trong cùng một dãy lập đền thờ tổ nghề, hay đình thờ thành hoàng bản quán (quê gốc), đây còn là nơi hội họp của phường hội. Phần lớn đền thờ tổ nghề nằm trong phố nghề. Những người làm nghề dệt (Hàng Cấp) từ Thăng Long xuống thì lập đền Voi Phục thờ thần Bạch Mã, đình Hàng Cấp (nay là trụ sở UBND phường Vị Hoàng). Các phố như: Hàng Bát, Hàng Tiện, Hàng Quỳ, Hàng Thiếc, Hàng Giấy, Hàng Đồng, Hàng Giầy, Hàng Nồi… đều có đền của phố nghề (phường nghề). Nhưng cũng có những đền như đền Hàng Bạc, đền Hàng Thêu, thực ra lại không có phố Hàng Bạc, Hàng Thêu riêng, bởi người làm nghề kim hoàn, buôn bán vàng bạc ở chung trong phố Hàng Rượu, nên đền Hàng Bạc dựng ở phố Hàng Rượu. Người làm nghề thêu tập trung ở đoạn đầu phố Hàng Thiếc và Cửa Đông nên đền Hàng Thêu được những người thợ thêu chung sức mua đất tại phố Cửa Đông dựng nên ...

Độc Đáo Rượu Bỉnh Di & Gỏi Tép Xào Nam Định




Làng Bỉnh Di thuộc xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là làng nghề nấu rượu truyền thống đã có hàng trăm năm nay. .Người dân làng từ bao đời nay gắn bó với nghề nấu rượu và bí quyết gia truyền trong quy trình chọn gạo, ủ men đã chưng cất nên một loại rượu quê ngon nổi tiếng Rượu Bỉnh Di.

                 

cũng như trải nghiệm với món “Tép xào lá chanh” hay “Gỏi tép xào” được chế biến từ những mẻ tép moi tươi rói do chính những người dân chài Hải Lý Hải Hậu Nam Định đây đánh bắt theo kiểu vô cùng độc đáo…
               

Kẹo Sìu Châu Đặc Sản Nam Định




Nam Định vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, nơi lưu giữ bao di sản văn hóa tinh thần với những nét đặc trưng quyến rũ. Con người Nam Định tài hoa, tinh tế, hiếu khách và chính họ đã tạo dựng trên mảnh đất này những sản phẩm văn hóa phong phú, đặc sắc. Về Nam Định để tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng và thưởng thức đặc sản văn hóa ẩm thực đất thành Nam, đó là kẹo Sìu Châu
Nhà thơ Tú Xương bằng giọng thơ trào lộng đã lấy kẹo Sìu Châu để so sánh với cái “Mứt Rận” (bài Mứt Rận-1903) của mình:

Kẹo chú Thiều Châu, đâu đọ được

Bánh bà Hanh Tụ, cũng thua xa.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến khi về ở ẩn nơi quê nhà, có lần nhận được một cân kẹo Sìu Châu do học trò cũ là án sát Trần Tán Bình gửi biếu. Khi ấy đôi mắt nhà thơ đã bị lòa, thưởng thức hương vị đậm đà của món quà quý giá, cụ Tam nguyên Yên Đổ đã ứng khẩu thành thơ:

Nguyên phùng tả hữu lai vô tận

Hương dẫn Chi Lan nhập tức văn

(1906)
Đại ý: Ăn kẹo Sìu Châu thì cảm nhận được hương thơm vương giả như hoa Lan. Ăn vào nhận ra ngay vị thơm ngon, đặc sản của vùng quê Nam Định)
Thời chiến tranh chống Mỹ, ở chiến trường B có câu ca dao được các chiến sĩ truyền miệng cho nhau để mà vui, để mà cười:

Trèo lên trái núi Thiên Thai

Thấy hai con cọp đang nhai kẹo Sìu

Không phải ngẫu nhiên mà một món ăn địa phương lại đi vào thi ca từ bình dân đến văn chương bác học như vậy! Cụ Huy Vinh - nhà nghiên cứu phê bình văn học có tiếng ở Nam Định nhân dịp Tết đến, thưởng thức kẹo Sìu Châu đã ứng khẩu đôi câu đối:

Xuân có kẹo Sìu xuân đượm sắc

Tết còn thơ Vị tết Nguyên Hương

(1976)
         
Để nấu được kẹo Sìu Châu, người thợ cần có đôi tay tinh tế, phải “dẻo tay” để giữ nhiệt độ ổn định của bếp và khó nhất là biết ước lượng tỷ lệ đường, lạc, mạch nha phù hợp với mỗi mẻ nấu. Kẹo nấu trong thời gian ngắn, thao tác nhanh nên người thợ kinh nghiệm phải nắm được bí quyết hoán đường đến độ nào thì mới cho đường vào.
Gia đình nghệ nhân Đỗ Đình Thọ đến này vẫn giữ nguyên cách thức dùng chảo đồng để hoán đường vì sẽ không dính chảo, rồi cho ít nước hòa tan đường, đun sôi, cho mạch nha vào sắc tới đặc. Khi đường đủ độ, cho lạc rang vào đảo nhanh rồi bắc ra, đổ kẹo lên bàn. Trong vòng mười phút phải cán kẹo và cắt kẹo xong vì nếu kéo dài thời gian kẹo bị cứng, không cắt được.
Kẹo ra lò có sắc nâu hồng và trong như hổ phách, ăn giòn tan, thơm lừng, ngọt đậm để lại dư vị khó quên. Kẹo Sìu Châu còn độc đáo ở kỹ thuật khử mùi hôi của dầu lạc, để lâu không ỉu.
Ông Đỗ Đình Thọ, người gìn giữ, phát triển nghề gia truyền kẹo Sìu Châu Nguyên Hương của dòng họ Đỗ từ 200 năm trước đã được Nhà nước vinh danh “Nghệ nhân tiêu biểu của làng nghề Việt Nam”. Ông còn được tổ chức văn hóa, giáo dục và khoa học của Liên hiệp Quốc (UNESCO) coi là “Báu vật nhân văn sống”.
Sự vinh danh này không chỉ là niềm tự hào của cá nhân và gia đình nghệ nhân mà còn là niềm tự hào của người dân Nam Định về thương hiệu kẹo Sìu Châu - đặc sản quê hương, món quà tinh tế dành tặng du khách xa gần khi về đất thành Nam văn hiến.

750 năm Thiên Trường - Nam Định


Thiên Trường - Nam Định là mảnh đất có bề dày văn hiến. Thời Trần, cùng với Thăng Long - Hà Nội, năm 1281, nhà Trần cho lập Nhà học ở phủ Thiên Trường, chăm lo việc đào tạo, tuyển chọn nhân tài, chấn hưng đất nước. Khoa thi năm Đinh Mùi (1247), Nguyễn Hiền ( người huyện Thượng Nguyên sau thuộc phủ Thiên Trường) đỗ Trạng Nguyên khi mới 13 tuổi. Truyền thống hiếu học và học giỏi của người Nam Định được hình thành và phát triển cho tới ngày nay. 



Mảnh đất Thiên Trường - Nam Định là nơi sản sinh, nuôi dưỡng nhiều nhân tài, danh nhân kiệt xuất cho đất nước. Thời Trần là các vị vua và tướng soái anh minh và anh hùng với những võ công, văn trị trác việt như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn...thời đại Hồ Chí Minh, Nam Định tự hào có nhiều chiến sĩ cách mạng tiền bối, nhiều nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân như Tổng Bí thư Trường Chinh; các đồng chí Trần Văn Lan, Lê Đức Thọ, Tống Văn Trân, Nguyễn Cơ Thạch, Song Hào...cùng nhiều tấm gương anh hùng trong lao động, sản xuất, chiến đấu; nhiều văn nghệ sỹ, trí thức tiêu biểu trong các thời kỳ đã cùng cả nước giữ gìn, phát huy truyền thống dân tộc quê hương.