Đúc Đồng Ý Yên Nam Định - Làng Đúc Đồng Tống Xá - Ý Yên
Quý khách đến thành phố Ninh Bình, theo đường quốc lộ 10, qua cầu Non Nước là bước chân vào đất tỉnh Nam Định, từ cầu đi hướng Nam Định khoảng 7 km tới Ngã Ba Cát Đằng có bảng chỉ dẫn thị trấn Lâm, quan khách đi khoảng 3 km là đến trung tâm thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đoạn đường này có một mùi đặc trưng khó quên là mùi tre ngâm dọc con kênh ven đường, vì dân ven đường là vệ tinh sản xuất các sản phẩm tiểu thủ công bằng tre sơn mài như dĩa, khay, lọ cắm hoa, lục bình lớn…các sản phẩm bằng tre này nổi tiếng, được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, bên cạnh đó có một làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên, chuyên cung cấp các sản phẩm đồ gỗ, nội thất.
Đúc đồng Tống Xá Ý Yên - Nam Định
Làng đúc đồng Tống Xá thuộc thị trấn Lâm, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định được xem là một trong những cái nôi của nghề đúc đồng truyền thống ở nước ta. Ngày nay, sản phẩm ở làng nghề đúc đồng truyền thống Tống Xá không chỉ làm giàu cho làng, mà còn trở thành niềm tự hào lớn của cả thành Nam nhờ nhiều năm qua, hàng ngàn các công trình - tác phẩm tượng đồng tầm cỡ quốc gia đã được chính những nghệ nhân trong ngôi làng này thực hiện bằng chính hoa tay, tâm sức của họ.
Các sản phẩm của Ý Yên mang tầm quốc gia
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ý YÊN:
Nghề đúc đồng ở Tống Xá, Vạn Điểm gắn với một truyền thuyết. Chuyện rằng, cách đây gần 900 năm, tại Phủ Yên Khánh (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), có ông Nguyễn Chí Thành ngay từ nhỏ đã xuất gia theo hầu Thiền sư Giác Không. Ông là người học rất giỏi, đi nhiều nơi, đem học vấn dạy cho mọi người.
Trong một lần qua Tống Xá, ông đã dạy cho dân làng cách làm khuôn để đúc đồng. Nhiều thế kỷ đã trôi qua, lịch sử cũng nhiều thăng trầm, dâu bể, nhưng nghề đúc đồng vẫn trường tồn như chính chất liệu đanh rắn của nó. Để nhớ công lao của ông, dân làng đã lập đền thờ. Hàng năm, vào giữa tháng 2 âm lịch, làng mở hội để tưởng nhớ công lao người đã truyền nghề, đem lại sự nghiệp cho làng.
Bây giờ trở về Tống Xá, Vạn Điểm(Làng nghề đúc đồng Ý Yên), từ tinh mơ đến tận sẩm tối, đâu đâu cũng gặp hình ảnh những bếp lò đỏ rực lửa. Thật không ngờ, nghề đúc đồng đã nhiều vất vả, hiểm nguy lại cần phải thật tỉ mỉ, tinh xảo mới tạo ra được sản phẩm hoàn hảo. Người thợ đúc phải trải qua rất nhiều công đoạn, từ cách chọn đất xây lò, nhóm lửa, chọn đồng đến làm khuôn, nấu chảy các mẻ đồng… Tất cả phải được thực hiện thận trọng, chuẩn xác để đảm bảo cho sản phẩm không bị vênh và co ngót.
Những Bếp Lò đỏ rực trong làng Tống Xá
MỘT SỐ ĐIỂM NỔI BẬT ĐỒ ĐỒNG TẠI Ý YÊN:
Tay nghề đúc truyền thống của dân làng Tống Xá, hay thị trấn Lâm, Ý Yên, Nam Định rất điêu luyện do có kinh nghiệm lâu năm, truyền thống với nhiều sản phẩm đa dang. Nghệ nhân đúc đồng tại Ý Yên mạnh dạn học tập đầu tư công nghệ, máy, thiết bị để sáng tạo, đã thành công với nhiều công trình nổi tiếng. Trí sáng tạo cao, các sản phẩm đồ đồng tại đây luôn có hồn Người làng nghề và các nghệ nhân nhiệt tình, tiếp thu kiến thức mới, và biết uyển chuyển trong các nghề mới như chạm khảm tam khí, gò đồng, nhuộm màu giả cổ… để sáng tạo ra sản phẩm mới độc đáo.
Những tác phẩm mang tính văn hóa lịch sử:
Thủa xưa, làng Tống Xá & Vạn Điểm(nằm tại Thị trấn Lâm) chỉ đúc những mặt hàng đơn giản như đồ thờ cúng, đỉnh đồng, lư hương. Ngày nay, với sự phát triển của làng nghề, 2 làng nghề này đang ngày càng đa dạng sản phẩm của mình với những bức tượng Phật, danh nhân, lãnh tụ dân tộc, đồ thờ cúng, chuông, tượng, đồ phong thủy bằng đồng tinh xảo bạn có thể tìm thấy các sản phẩm đồ đồng do Ý Yên sản xuất tại đây.
Biển Thịnh Long là một bãi biển sạch, trải dài hơn ba km với những dải cát mịn thoải, không bị bùn lún, an toàn tuyệt đối, êm đềm và thơ mộng thuộc thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ngoài tên Thịnh Long, biển này còn có tên là Hải Thịnh.
Với người dân miền Bắc, đặc biệt là người dân Thủ đô Hà Nội, tên “Thịnh Long” đã không còn xa lạ mỗi dịp hè về. Thịnh Long chỉ cách trung tâm Hà Nội chừng 150 km, mang vẻ đẹp hoang sơ, khí hậu mát mẻ hơn hẳn so với bãi biển Sầm Sơn, Cửa Lò vì không có cái nóng oi nồng của gió Lào. Do thiên nhiên ưu đãi nên thức ăn ở đây luôn tươi, ngon, giá cả rẻ.
Chia sẻ kinh nghiệm du lịch biển Thịnh Long, một vùng biển thơ mộng và hoang sơ của tỉnh Nam Định.
Biển Thịnh Long hoang sơ
Nên đến Thịnh Long vào mùa nào?
Bạn có thể du lịch Thịnh Long quanh năm, tuy nhiên với đặc trưng là bãi biển tắm mát nên bạn nên đến Thịnh Long vào mùa hè, những ngày nắng nóng oi bức.
Đến Thịnh Long bằng phương tiện gì?
Bạn có thể đến Thịnh Long bằng rất nhiều phương tiện: đi xe khách, đi xe máy, xe bus, thuê xe riêng hay đi theo tour.
Khoảng cách từ Hà Nội về Thịnh Long khoảng 150 km (nếu đi theo Quốc lộ 21) và khoảng 135 km nếu theo đường tỉnh 490 (qua phà huyện Nghĩa Hưng). Đi từ Hà Nội về Thịnh Long, bạn có thể bắt xe khách ở bất cứ thời điểm nào trong ngày tại bến xe Mỹ Đình, Giáp Bát (giá vé từ bến xe Mỹ Đình, Giáp Bát về Thịnh Long khoảng 70.000đ/1 người).
Đi xe máy về Thịnh Long cũng là một ý tưởng rất hay cho các bạn muốn đi phượt bởi đường to, đi hoàn toàn bằng đường nhựa lên sẽ rất nhanh. Nếu xuất phát từ Hà Nội về Thịnh Long, bạn có thể tham khảo 2 khung đường sau:
Tuyến 1: Hà Nội > Pháp Vân > Cầu Giẽ > Cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình > Trạm thu phí nút giao Liêm Tuyền > xuống nhánh phải rẽ ra đường N2 (đường vành đai thành phố Phủ Lý) > rẽ trái ra QL.21 đi Nam Định > đầu thành phố Nam Định > cầu vượt Nam Định (QL10) > QL21 > cầu Lạc Quần > Hải Hậu > Thịnh Long (Hải Thịnh).
Tuyến 2: Hà Nội > Pháp Vân > Cầu Giẽ > Cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình > Trạm thu phí nút giao Liêm Tuyền > xuống nhánh phải rẽ ra đường N2 (đường vành đai TP Phủ Lý) > rẽ trái ra QL.21 đi Nam Định > đầu thành phố Nam Định > cầu vượt Nam Định (QL10) > QL21 > rẽ phải QL.55 > phà Hải Thịnh > QL.21 (Hải Hậu) > Thịnh Long (Hải Thịnh).> Hải Hậu > Thịnh Long (Hải Thịnh). Tuyến này gần hơn tuyến 1 khoảng 30 km.
Hoặc bạn có thể bắt xe về tới thành phố Nam Định rồi bắt bus số 02 về điểm cuối là Thịnh Long, hoàn toàn thuận lợi cho bất kì bạn ở đâu.
Còn nếu bạn không rành đường đi, bạn có thể đặt các chuyến theo tour du lịch rất dễ dàng.
Chơi gì ở Thịnh Long?
Biển Thịnh Long được chia thành hai bãi, bãi 1 thích hợp với các bạn muốn chụp ảnh, khám phá cùng những chiếc mùng, ghè của ngư dân, cùng hoà vào ngày làm việc của các ngư dân. Bạn có thể tự tay thả lưới bắt cá, đi cà kheo,…. Bãi 2 trái ngược với bãi đầu, những nhà nghỉ mọc san sát, những quán ăn, quán quà lưu niệm được trưng bày trải khắp bãi - đây chính là bãi tắm chính của biển Thịnh Long.
Đến biển Thịnh Long tắm biển là chính, bạn có thể ra biển tắm vào buổi sáng sớm hay chiều muộn, không nên tắm biển vào lúc trời nắng to. Lưu ý, thủy triều ở đây lên xuống theo con nước do đó khi đến nơi bạn nên hỏi người dân ở đây để chọn thời điểm tắm biển sao cho phù hợp nhất. Tắm ngay ở bãi thì khá đông, bạn nên đi dịch lên chút bãi sẽ thưa hơn và sạch hơn để tắm.
Ngoài tắm biển, bạn cũng không nên bỏ qua việc đón bình minh trên biển, không khí buổi sáng ở đây rất trong lành, hoang sơ và thơ mộng, hiếm có bãi biển nào hiện nay giữ được. Hoặc bạn có thể câu tôm hen vào các buổi sáng sớm chỉ cần một sợi dây buộc vào con ốc xoắn, rồi thả xuống lỗ tôm trú ẩn và việc còn lại chỉ là ngồi đợi tôm cắn câu. Hay thuê một chiếc thuyền nhỏ lênh đênh sóng nước ra khơi ngắm ngư dân đánh bắt cá biển, đều rất thú vị và tuyệt vời.
Bình minh trên biển Thịnh Long
Ngoài tắm biển, bạn có thể đi dạo quanh bờ biển để tham quan các cửa hàng bán đồ lưu niệm, chủ yếu là ốc biển, và các đồ lưu niệm từ ốc biển như: chuông gió, móc chìa khóa, vòng tay,…
Ngoài ra, nếu bạn có xe máy bạn có thể tham khảo đi theo đường biển đến biển Hải Lý (Hải Hậu), ở đây có nhà thờ đổ ven biển mùa cưới nhiều đôi đến đây chụp ảnh cưới, ai cũng thích. Bạn cũng có thể đi thăm quan nhà thờ của đạo thiên chúa giáo, nhà thờ ở đây rất nhiều và lớn, địa điểm thường xuyên và lý tưởng cho khách du lịch đến đây muốn cầu nguyện, chụp ảnh.
Nhà thờ đổ biển Hải Lý
Ngoài lịch trình ngắm biển, bạn có thể đi đến các bãi muối, chụp ảnh và ngắm nhìn các bác nông dân làm ra những hạt muối biển mặn mòi.
Khách sạn, nhà nghỉ ở Thịnh Long
Tại Thịnh Long, bạn có thể chọn cho mình một điểm dừng chân tại rất khách sạn, hay nhà nghỉ mọc san sát nhau. Theo đánh giá chung thì phòng ở đây không đẹp lắm (so với các bãi biễn khác) nhưng giá khá rẻ.
Dưới đây là danh sách khách sạn, nhà nghỉ tại Thịnh Long:
Khách sạn Công Đoàn với 100 phòng nghỉ tiện nghi, rộng rãi, thoáng mát với tầm nhìn ra biển cả mênh mông, những hàng phi lao ngút ngàn. Khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao, có thang máy (sđt: 0350.3876033)
Khách sạn Huy Anh, đây là khách sạn cao cấp tại trung tâm bãi 1, với phòng nghỉ lịch sự, thoáng đẹp, có hồ bơi, và nhiều dịch vụ đi kèm. Tuy nhiên giá phòng khá đắt, vào khoảng 800.000-1.000.000đ (số điện thoại: 0350.374.7926, 0983.411.345, 0129.324.5589). Số phòng: 16.
Nhà nghỉ Tân Sơn (địa chỉ số 24, bãi 1), đây cũng là nhà nghỉ nằm ở trung tâm bãi 1, khá gần mép nước, không gian rộng rãi, thoáng mát. Nhà nghỉ này có 11 phòng tiêu chuẩn, điều hòa, khép kín. Giá phòng từ 200.000-300.000đ. Nhà nghỉ này cũng phục vụ ăn uống với rất nhiều món ăn đa dạng với giá 1 suất ăn từ 100.000đ.
Nhà nghỉ Hoa Hồng (số 51, bãi 1), nhà nghỉ này cũng gần mép nước, phòng máy lạnh, khép kín với giá phòng từ 200.000đ – 250.000đ, suất ăn từ 100.000đ trở lên.
Nhà nghỉ Minh Sỹ (số 02B, đầu bãi 1), nhà nghỉ này cách mép nước biển 50m, có 17 phòng (rộng từ 18-20m2), và đều là giường đôi (nếu ở đông, giá phòng trên dưới 200.000đ).
Nhà nghỉ này có tivi truyền hình cáp, điều hòa nóng lạnh, karaoke vi tính, màn hình máy chiếu 300 in, các bài hát mới luôn được cập nhật. Phục vụ hát trong khuôn viên ngay sát mặt nước biển, mọi người có thể thể hiện khả năng ca hát trước đám đông và đặc biệt khách sạn có tổ chức đốt lửa trại đêm cho học sinh, sinh viên, tổ chức cá nhân ... giao lưu hát hò,ghita …theo yêu cầu.
Khách sạn Hải Âu : điện thoại: 0350.3876251, số phòng nghỉ: 46.
Khách sạn Thăng Long: Điện thoại: 0350.3876444, số phòng nghỉ: 32.
Khách sạn Hoàng Anh ( VINASHIN): Điện thoại: 0350.3797637, số phòng nghỉ: 61.
Khách sạn Hồng Quang: Điện thoại: 0350.3876457, số phòng nghỉ: 28.
Khách sạn Thiên Long: Điện thoại: 0350.3876084, số phòng nghỉ: 25.
Nhà nghỉ Hải Long: Điện thoại: 0350.3876500, số phòng nghỉ: 28.
Nhà nghỉ 58 - Phú Hưng (Bãi 1 - Thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu có mặt tiền hướng ra biển): Điện thoại: 0350.3876 062 - di động: 0166 615 5388, số phòng nghỉ: 20.
Nhà nghỉ Thành Trung: điện thoại: 0350.3876343, số phòng nghỉ: 13.
Nhà nghỉ Hà Nội: Điện thoại: 0350.3876302, số phòng nghỉ: 17.
Khách sạn Hương Biển: Điện thoại: 0350.3797359, số phòng nghỉ: 24.
…..
Mỗi mùa giá phòng sẽ khác nhau, đặc biệt là vào dịp nghỉ lễ giá phòng ở đây sẽ rất cao, để đảm bảo, bạn nên gọi điện đặt phòng ngay từ sớm hoặc tránh dịp cuối tuần, ngày lễ.
Ăn gì ở Thịnh Long?
Tại đây, đồ biển nhiều vô số, bạn có thể tha hồ thưởng thức các đặc sản biển với giá khá mềm. Những ai đến với Thịnh Long đều rất nghiện món mực chiên giòn chấm tương ớt. Từ lâu nay nó đã “thôi miên” nhiều du khách tới mức không thể bỏ qua trong mỗi chuyến nghỉ mát ở Thịnh Long. Đi kèm là mực và ốc sò luộc với vị ngọt không kém sự thu hút.
Mực chiên giòn chấm tương ớt, món ăn nổi tiếng ở biển Thịnh Long
Ngoài ra bạn có thể thưởng thức các món ăn như: tôm nướng, ghẹ, tôm hấp sả ớt,… Một đặc sản không thể không nhắc đến chính là món cá lâm rang muối có vị mằn mặn, béo béo, cay cay lại giòn ngọt khó quên. Ngoài hải sản bạn không quên thưởng thức món cơm gạo tám xoan Hải Hậu nổi tiếng dẻo, thơm.
Tôm nướng cũng là món không thể bỏ qua khi đến với Thịnh Long
Có một số lưu ý khi ăn ở đây là khách sạn, nhà nghỉ thường có dịch vụ ăn luôn, nhưng bạn nên tham khảo trước khi quyết định ăn ở đây bởi giá khá đắt. Một số quán ăn ngay sát bờ biển giá cũng khá đắt (bãi biển nào cũng thế), bạn có thể đi sâu vào trong một chút, sẽ có rất nhiều quán ăn gần nhà dân với giá mềm hơn rất nhiều.
Món ăn hải sản phổ biến ở đây
Mua gì làm quà lưu niệm?
Ở đây bạn có thể mua các đồ ăn hải sản về làm quà như: ghẹ 500k/kg (1 kg 4 con), cá song 500k/kg (1 con hơn 4 kg), cua 500-600k/kg, tôm to 500k/kg (3 con/lang), cá thu mua đại lý 140k/kg (không có dịch vụ nướng),...(giá đã bao gồm công chế biến).
Ngoài ra, bạn có thể mua những con ốc hay những quà lưu niệm làm từ những con ốc về làm quà, giá khá rẻ và đẹp.
Cũng có một lưu ý là bạn không nên mua ngay trên đường đi sát bờ biển mà lên vào chợ, nơi có nhiều hàng, bạn sẽ mua được nhiều hơn và giá cũng mềm hơn rất nhiều.
Nem nắm Xuân Thủy là một món ăn đặc sản của huyện Xuân Thủy ngày xưa, huyện Giao Thủy Và Huyện Xuân Trường ngày nay (trước là huyện Xuân Thủy tỉnh Hà Nam Ninh, sau tách thành 2 huyện Xuân Trường Và Giao Thủy), tỉnh Nam Định, Việt Nam. Nem có 2 loại sống và chín.Nem nắm Xuân Thủy có thành phần làm từ bì lợn (da heo) và thịt nạc mông, thính, đặc biệt là không thể thiếu nước mắm Sa Châu.
Bì lợn làm nem được lựa chọn kỹ càng từ da của những con lợn khỏe mạnh, không quá già hoặc quá non. Sau khi loại bỏ lông và phần mỡ dính dưới da, bì lợn được đem luộc chín tới (nước sôi khoảng 3- 5 phút) để bì vừa dai lại vừa mềm; nếu luộc kỹ bì sẽ bị keo dính ăn không ngon. Bì phải thái mỏng bằng tay, tuyệt đối không dùng bằng máy thái.
Thịt lợn để làm Nem phải là thịt tươi mới, luộc qua nước sôi đến chín tới sau đó được thái mỏng, dần bằng sống dao.
Thính gạo được làm từ thứ gạo ngon nhất của vùng chiêm trũng, nó tạo nên hương vị đặc trưng khác với những vùng khác.
Nước mắm Sa Châu là Thứ nước mắm cũng rất nổi tiếng, nó được làm theo cách cổ truyền, cá được nấu chín tự nhiên, không qua tẩm ướp, sau chừng 6 tháng mới mang ra vắt lấy nước mắm nguyên chất. Sau đó, mắm lại được phơi nắng nóng rồi cho vào vại sành chôn xuống đất thêm 6 tháng nữa. Vậy là phải mất ngót 1 năm, nước mắm Sa Châu mới được mang ra để ăn với Nem nắm.heo một số tài liệu cổ còn để lại, khi nhà Trần chọn phủ Thiên Trường làm kinh đô thứ hai, các làng nghề được hình thành và của ngon vật lạ cả nước đổ về đây để tiến vua. Món nem nắm Xuân Thủy là một đặc sản đã được dân tiến lên vua Trần và phát triển từ thời kỳ này. Đến nay, nem nắm Xuân Thủy được coi là món đặc sản của người dân Nam Định. Nói đến nem nắm Giao Thuỷ không thể không nói tới nem nắm bà Sậu Giao Hải. Món ăn này đã có mặt hầu hết tại TP Nam Định và các tỉnh, thành phố lân cận như Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình. Ngoài ra còn nổi tiếng ở một số xã như xã Giao An, Giao Thanh, Giao Tiến làng Hoành Nha, xã Xuân Kiên, Xuân Tiến làng Kiên Lao, Xã Giao Nhân làng Duyên Sinh (Chợ Bể)Nem được ăn ngay sau khi chế biến mà không để chua như một số loại nem khác, thường được cuộn vào lá sung và lá đinh năng. Nem có thể được chấm với nước mắm chắt mặn,nước mắm tỏi ớt hoặc chấm tương ớt và có thể ăn kèm với rau sống khác.
Được hình thành từ đầu TK 11, làng cổ Dịch Diệp xưa kia có tên gọi là Dịch Diệp Trang thuộc huyện Tây Chân – Chấn Sơn Nam, nay thuộc xã Trực Chính – huyện Trực Ninh – tỉnh Nam Định. Làng hình thành theo phong cách chung của làng văn hóa Việt cổ truyền thống với nhiều nét đẹp cổ kính, đi vào lòng người nhiều dấu ấn khó phai.
Đầu làng đến cuối làng đều có cổng làng, có đường đi qua các làng bên. Trải qua thời gian dài, làng cổ Dịch Diệp chỉ còn duy nhất 1 cổng làng phía Nam đứng bên cạnh cây cầu cuốn bắc qua con sông thơ mộng.
Bên cạnh đó, làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà và cổng nhà cổ, cây Bồ Đề có tuổi đời 700 – 800 năm tuổi. Nó như một minh chứng cho sự tồn tại của làng Dịch Diệp cổ cho đến nay, thể hiện sự sống lâu đời.
Một góc làng cổ Dịch Diệp
Theo các cụ cao niên trong làng, thì Làng cổ Dịch Diệp được hình thành từ thời nhà Lý, dưới thời vua Lý Thái Tổ, thuở ban đầu làng tập chung làm nghề canh nông, sau này mở thêm nghề dệt cửi, lúc này nghề dệt cửi bắt đầu hình thành và phát triển trên vùng đất Dịch Diệp cổ.
Với nghề dệt cửi truyền thống nổi tiếng, tên tuổi của làng đã nhanh chóng được vang xa hơn. Đặc biệt, năm 1947 làng đã may áo chấn thủ gửi tặng bộ đội và may tấm áo lụa gửi tặng Bác Hồ, được Người gửi thư khen.
Một trong những ngôi nhà cổ của làng vẫn còn được lưu giữ
Thế nhưng qua thời gian dài, những nét Việt cổ của làng Dịch Diệp dường như đang phai nhạt theo năm tháng cùng với sự phát triển của xã hội nên nhu cầu công việc của con người cũng thay đổi. Nghề dệt không được trú trọng nhiều bởi thu nhập không cao.
Để bảo tồn và lưu giữ những gì mà làng vẫn còn tồn tại, rất mong các cấp chính quyền cần có những giải pháp thích hợp để lấy lại vẻ đẹp cho làng Việt cổ Dịch Diệp, đồng thời lưu giữ lại nghề dệt đã bao đời nay gắn bó với bà con.
Hàng năm vào thượng tuần tháng 3 âm lịch, chính hội là 3/3, du khách thập phương nô nức hành hương về với Hội Phủ Dày, nơi thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, người Mẹ linh thiêng của dân tộc Việt Nam. Tục thờ Đức Thánh mẫu có ở khá nhiều nơi như Phố Cát (Thanh Hóa), Đền Sòng (Nghệ An)... Nhưng có lẽ tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nơi Mẫu sinh) là thu hút khách thập phương hơn cả.Du khách trảy hội Phủ Dày vừa để dự ngày giỗ Mẹ, vừa để thỏa nguyện tâm linh và được ngắm nhìn một quần thể kiến trúc lăng chùa truyền thống vô cùng độc đáo.
Hội Phủ Dày thực sự hấp dẫn khách bởi sự đan xen, hòa quyện giữa những nghi thức trang trọng cùng những hoạt động văn hóa dân gian sôi nổi, đặc sắc. Tiêu biểu nhất trong hội Phủ Dày là nghi lễ rước Thánh Mẫu từ phủ chính (Tiên Hương) lên chùa Gôi vào ngày 6/3. Ðám rước Thánh Mẫu dài gần 1 km, rất trang trọng có đội ngũ nhạc, có phường bát âm. Ðến ngày 7/3 sinh hoạt văn hóa "Hoa trượng hội". Ðây là nét độc đáo nhất của lễ hội. Mỗi lần xếp chữ cần khoảng 100 phu cờ, mặc đồng phục, chít khăn đỏ, áo vàng, thắt lưng xanh, quần trắng, xà cạp đỏ. Mỗi người cầm cây gậy dài khoảng 2 mét. Người điều khiển gọi là tổng cờ. Vào cuộc chủ lễ xin Mẫu "ra chữ" sau đó theo nhịp trống chiêng rộn rã xếp thành những dòng chữ nho đầy ý nghĩa.
Hoà trong không khí sinh hoạt văn hóa dân gian, du khách còn được xem rước thỉnh kinh, rước kiệu bát cống long đình, xem múa rồng hội trên núi Tiên Hương.... Và khi màn đêm buông xuống, du khách sẽ được đắm mình trong những điệu Chầu văn tha thiết cùng những đèn trời được thả lung linh sắc mầu huyền ảo. Về với Hội Phủ Dày, du khách như được trở về với cội nguồn dân tộc, bởi nơi đây quy tụ rất nhiều những tinh hpoa văn hóa ngàn đời của dân tộc ta. Và đó còn là một nhu cầu của vẻ đẹp tâm linh trong những ngày đầu năm mới.
Làng Kênh lắm ao, nhiều hồ, dân cư đông đúc có nghề làm bánh cuốn… Không phải ngẫu nhiên trong dân gian lại có câu: “Chổi Vĩnh Trường, bánh cuốn Kênh, tương Tức Mặc, rau muống Thượng Lỗi”. Sản phẩm làm bằng gạo của làng Kênh nghe đâu còn là thứ quà quý để dâng vua và cụ tổ nghề còn được vua Trần sắc phong Thành hoàng làng. Chỉ có điều qua năm tháng chiến tranh, bây giờ tìm tại dấu tích xưa cũng không còn ai biết đã lưu lạc phương nào. Nhưng chắc chắn rằng bánh cuốn làng Kênh đã từng là món ăn nổi tiếng một thời và đến nay số người quay lại làm nghề cũng không phải là ít.
Bánh cuốn làng Kênh nổi tiếng ngon, là món quà đặc sản của người dân Thành Nam từ xưa tới nay. Trước đây, bánh cuốn dùng để tiến vua. Ngày nay, người làng Kênh làm bánh cuốn để bán cho những người dân nội thành Nam Định. Hầu như các gia đình làm bánh cuốn hiện nay chủ yếu vẫn giữ được chất lượng cổ cổ truyền của bánh.
Để thực hiện, người ta thường chuẩn bị thật tỉ mỉ từng công đoạn. Bắt đầu từ khâu chuẩn bị dụng cụ làm bánh đến khâu cuối cùng là tráng bánh và cho ra thành phẩm. Dụng cụ làm bánh cuốn nghe đơn giản nhưng rất cầu kỳ. Gáo múc bột phải bằng ống nứa tép hoặc bằng gáo dừa, que cất và sểu nhân phải bằng tre bánh tẻ để đảm bảo có độ dẻo và cứng. Thông thường người làm chọn loại tre đực và có gióng dài ít khẩu về nhà vót tỉa thật cẩn thận không mỏng quá cũng không quá dầy, độ dài vừa phải để đảm bảo xểu bánh chắc tay và không bị hơi nước từ nồi hấp làm bỏng tay. Nồi hấp bánh phía trong có lớp vải bảo ôn làm màng hấp bánh. Vung nồi, phải đạt được hai yêu cầu kỹ thuật là thấm nước và giữ nhiệt, bánh mới chín nhanh.
Gạo làm bánh phải là gạo ngon, hạt gạo dài có màu trắng đục, lúc xay bột mịn và trắng, gạo pha tạp bánh sẽ không trắng (trước đây người dân thường dùng gạo Mộc Tuyền, ngày nay người ta dùng gạo Năm Số). Gạo được ngâm kĩ trong khoảng 2 đến 3 tiếng trước khi xay. Bột bánh phải được xay tay bằng cối đá (đây là cách xay bột truyền thống mà người dân làng kênh vẫn giữ được) nếu xay bằng máy bột không mịn khi tráng bánh bị vón thậm chí bột lẫn mùi lạ tráng bánh mất ngon. Mộc nhĩ ngâm cho nở hết, thái nhỏ xào với mỡ, hành sau khi phơi tái, phi thơm phải giữ sao cho khô, bí quyết để có hành phi ngon của người xưa là phải chọn loại hành tía ta, vì hành tía có nhiều dầu khi phi lên mùi thơm ngào ngạt và giữ lâu không ỉu. Trước đây khí tráng bánh người ta thường xếp bánh trên lá sen hoặc lá chuối goòng, nếu dùng lá chuối tiêu bánh sẽ đắng. Người làng Kênh vẫn truyền cho con cháu kinh nghiệm tráng bánh ngon: bột không được ngâm quá lâu vì bánh sẽ nhão, khi tráng thoa một lớp bột mỏng nhưng đều, muốn bánh có độ dai, mỏng và giòn, để lâu bánh không bị cứng thì khi pha bột bánh thêm một lượng nhỏ bột giong, tránh dùng hàn the vì để lâu bánh sẽ cứng lại có hại cho cơ thể.
Nước mắm chấm bánh cuốn ngày xưa là nước mắm cà cuống ngày nay có thể dùng nước mắm ngon được bán rộng rãi trên thị trường. Nguyên liệu pha nước chấm gồm có: nước mắm ngon, dấm thanh, đường trắng và hạt tiêu ta xay nhuyễn. Nước chấm được pha theo tỷ lệ đặc biệt, khi ăn được vắt thêm một lát chanh, thêm mấy cọng mùi, …Khi ăn bánh cuốn, lật dở từng tấm bánh còn ấm nóng, chấm vào nước mắm đã pha chế, với chả thanh cùng mấy cọng rau mùi, và hành phi thơm lừng giòn rụm mới thấy hết được “quốc hồn, quốc túy là đây !”.
Thuở trước, người dân làng Kênh tráng bánh từ tờ mờ sáng và mang bánh đi bán tại các chợ nội thành, hoặc đi rong trên các con phố. Bây giờ, khi xã hội càng phát triển người ta có điều kiện đi tìm cái ngon cái đẹp, người làng Kênh lại tráng bánh tại nhà để đảm bảo sự nóng sốt đến với những thực khách khó tính. Có dịp về vùng quê nào cũng có thể thưởng thức bánh cuốn, song bánh cuốn ngon và nổi tiếng nhất Nam Định vẫn là bánh cuốn làng Kênh./.
Cửa hàng ăn uống dưới hầm- nét riêng Thành Nam anh hùng thời kỳ chống Mỹ
Di tích cửa hàng ăn uống dưới hầm nằm ở giữa khu buôn bán tấp nập, chạy dài từ ngã tư Hai Bà Trưng - Hàng Tiện tới ngã tư Hai Bà Trưng - Bà Triệu. Nơi đây đã trở thành dấu tích ghi nhận công lao của những mậu dịch viên xã hội chủ nghĩa - Những nàng dâu trăm họ, đã đóng góp công sức phục vụ dân quân, tự vệ vừa sản xuất, vừa chiến đấu bảo vệ Thành phố Nam Định trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.
Trước đây cửa hàng ăn dưới hầm là một quầy thuộc cửa hàng ăn số 1 (cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh đầu tiên của thành phố Nam Định). Cửa hàng ăn số 1 có nhiều quầy (còn gọi là cửa hàng nhỏ) chia ra khắp địa bàn thành phố Nam Định với nhiệm vụ phục vụ ăn sáng và cơm bữa cho cán bộ nhân dân thành phố.
Sau khi gây ra "Sự kiện vịnh Bắc Bộ" tháng 8 -1964, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất. Ngày 28 tháng 6 năm 1965, lúc 9 giờ sáng, chúng đã ném bom xuống Thành phố Nam Định. Thời điểm này, cửa hàng ăn số 1 đã thu hẹp các cửa hàng nhỏ và chuyển về những nơi thuận tiện cho khách hàng. Quầy hàng khu vực Câu lạc bộ thành phố (còn gọi là "quầy hàng Thanh niên") với 12 nhân viên đều ở tuổi thanh niên và chủ yếu là nữ được chuyển về khu vực cuối phố Hai Bà Trưng. Khi chuyển về địa điểm mới, quầy chỉ có hai gian nhà cấp bốn và một ki-ốt liền với giao thông hào. Mỗi khi có máy bay, khách hàng phải xuống giao thông hào ẩn nấp, rất bất tiện cho người ăn nên các đồng chí lãnh đạo quầy hàng đã đề xuất ý kiến xây dựng giao thông hào thành căn hầm chắc chắn để cho khách hàng ăn uống bình thường khi có báo động. Ý kiến này đã được các đồng chí lãnh đạo thành phố đồng ý và gấp rút thi công. Cửa hàng ăn uống dưới hầm được ra đời như vậy.
Cửa hàng ăn uống dưới hầm là một công trình kiến trúc khá đặc biệt và chỉ có thể xuất hiện trong thời chiến, với hình dáng là một giao thông hào hình chữ Z nửa chìm nửa nổi, lòng rộng khoảng 1m, cao 2m. Tường hào xây gạch xi măng. Phía trên đổ bê tông rồi phủ hàng trăm mét khối đất, trồng cỏ ngụy trang. Trong lòng hào về hai phía đan chéo nhau, cứ khoảng 1m được trổ một ngách, kê một bộ bàn ghế bằng bê tông. Đây chính là chỗ ngồi ăn của khách hàng. Trong căn hầm có tới hàng chục bàn ăn kiểu này. Khách hàng xuống ăn uống tuy có nóng bức đôi chút về mùa hè, nhưng rất yên tâm, còn mùa đông thì ấm áp. Đã hai lần giặc Mỹ ném bom, có lần chúng ném bom bi, lúc đó cửa hàng có tới 30 khách hàng đang ăn, nhưng toàn bộ nhân viên và khách hàng không ai bị thương.
Cửa hàng ăn uống dưới hầm có hai cửa ra vào, còn gọi là lối xuống, lối lên. Từ ngoài đường nhìn vào thì cửa xuống ở phía ngã tư phố Hai Bà Trưng - Bà Triệu. Còn cửa lên quay về phía ngã tư phố Hai Bà Trưng - Hàng Tiện. Khách hàng vào ăn thì phải xuống hầm theo lối cửa phố Bà Triệu. Bước xuống bậc tam cấp, tới ngách thứ nhất là quầy bán vé, khách hàng phải trả tiền mua vé, có khi đông phải xếp hàng. Sau đó tới ngách tiếp theo là nơi chế biến, chia xuất ăn, mậu dịch thu vé, giao hàng cho khách. Người mua hàng phải tự bê thức ăn ra bàn ở các ngách tiếp theo. Ăn xong khách hàng không đi ngược trở lại mà phải đi theo chiều mũi tên trong giao thông hào rồi đi lên cửa hầm (phía lối phố Hàng Tiện).
Để phân biệt với các cửa hàng ăn khác cũng thuộc cửa hàng ăn số 1 nhưng được bố trí bán hàng trên mặt đất, người ta gọi cửa hàng dưới lòng đất này là Cửa hàng ăn dưới hầm. Gọi mãi trở thành quen, rồi trở thành tên. Và Cửa hàng ăn uống dưới hầm đi vào lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân Thành phố Nam Định.
Ngoài việc phục vụ cho lực lượng ở lại sản xuất và chiến đấu, cửa hàng còn được phân công phục vụ cho các hội nghị của tỉnh, thành phố, phục vụ công nhân ngành giao thông vận tải trong những đợt tổng công kích vào chiến trường phía Nam. Những ngày bình thường với 12 người chia làm 2 ca, cửa hàng đã phục vụ tới 3.000 lượt người ăn, với doanh số 1.000 đến 1.500 đồng/ ngày. Ngoài số khách hàng thường xuyên trên đây, trong những đợt phục vụ công nhân ngành giao thông vận tải tổng công kích, có khi tới 7 ngày liền, thì tần suất phục vụ tăng lên 3 đến 4 lần. Với tinh thần "Thanh niên 3 sẵn sàng, Phụ nữ 3 đảm đang", tự nguyện làm thêm giờ chống Mỹ, cán bộ nhân viên cửa hàng đã làm việc suốt ngày đêm. Doanh số những ngày này nâng lên 3 đến 4 nghìn đồng với 3 đến 4 nghìn suất ăn/ngày. Bữa ăn thời chiến vô cùng giản dị và đạm bạc. Những món ăn chính của cửa hàng lúc đó là mì nước (mọi người thường gọi đùa là "mì không người lái" vì không có thịt mà chỉ có tí nước mắm và mì chính giá 2 hào/bát). Bánh rán, còn gọi là "bắp nắp hầm", vì có hình tròn giống nắp hầm cá nhân, 2 hào một chiếc. Cơm thu 250 gram tem 3 hào/suất, cơm không thu tem 5 hào/suất... Ngoài ra, chị em mậu dịch viên còn mang si rô, bánh ngọt tới phục vụ anh em bộ đội trong các trận địa chiến đấu, hay làm công tác khắc phục hậu quả chiến tranh, dọn những nơi bị Mỹ ném bom, cứu sập hầm...
Cửa hàng ăn uống dưới hầm - một điển hình về phương pháp lẫn hình thức phục vụ khách hàng. Tinh thần thái độ phục vụ ấy đã được công nhận là điển hình tiêu biểu về nếp sống thời chiến của quân dân Thành phố Nam Định trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Cửa hàng ăn uống dưới hầm đã gắn liền với lịch sử vừa sản xuất vừa chiến đấu chống Mỹ của quân dân thành phố Nam Định trong những năm 60-70 của thế kỷ 20 vừa qua. Năm 1979, cửa hàng ăn uống dưới hầm đã được Nhà nước cấp bằng công nhận là Di tích lịch sử thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
Cầu cách chùa Lương 150 m, nằm trên trục đường gắn liền với chùa, đền thành một cụm di tích. Theo "Quần Anh địa chí", cầu được hình thành cùng thời gian với chùa Lương.
Qua đôi câu đối trên cầu cho thấy Thuỷ Tổ đã quan tâm đến việc bắc cầu ngay từ thời gian đầu tiến hành khẩn hoang: “Lê Hồng Thuận Tứ tính thuỷ mưu giá ốc biệt thành giang thượng lộ”. “Hoàng Khải Định thất niên trùng tấp dư lương y cựu kính trung thê”. Nghĩa là:
“Đời Hồng Thuận (1509 - 1515) bốn họ tính kế dựng nhà trên cầu, thành đường trên nước”. “Đời Khải Định thứ 7 (1922) tu sửa như cũ, từng bậc xếp lên gương”.
Cầu Ngói
Buổi đầu còn đơn sơ lợp cỏ, đến thế kỷ XVII cầu được tu sửa quy mô hợp với cảnh chùa Phúc Lâm, qua nhiều năm nhưng vẫn mang đậm phong cách kiến trúc cổ truyền Việt Nam, là một di tích độc đáo của trấn Sơn Nam Hạ xưa vàNam Định nay. “Cầu Nam, Chùa Bắc, Đình Đoài”. Cầu Ngói, chợ Lương là một trong ba cây cầu đẹp nhất miền Bắc Việt Nam.
Đã từ lâu, nghề ươm tơ ở làng Cổ Chất (xã Phương Đình, huyện Trực Ninh, Nam Định) đã đi vào câu ca: “Hỡi cô thắt dải lưng xanh/ Có về Nam Định với anh thì về/ Nam Định có bến Đò Chè/ Có tàu Ngô Khách, có nghề ươm tơ.”
Chùa Phúc Lộc (Phúc Lộc Tự) là ngôi chùa cổ nằm Ven sông Đào nay thuộc
thôn Hưng Lộc, xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.Chùa được
xây dựng vào khoảng năm 1440 hoàn thành khoảng năm 1442. (tính tới nay
đã tròn 570 năm). Hiện chùa Phúc Lộc còn đang lưu giữ một số báu vật quý
như: Chiếc chuông đồng cổ treo trên gác trước cổng trên có ghi: “Hoàng
triều Cảnh Hưng. Vạn Vạn Niên. Chi nhị thập Tam Tuế” (như vậy có thể
thấy Quả chuông cổ này được đúc vào năm Cảnh Hưng thứ 13 vào khoảng năm
1762 tính tới nay là 250 năm).Chùa Phúc Lộc có cảnh sắc và không gian
thanh tịnh mang đậm chất Phật giáo. Bảo Tháp được thiết kế toạ lạc trong
khuôn viên chùa Phúc Lộc nằm giữa 2 cây bồ đề cổ thụ. Mặt chính của Bảo
tháp quay về hướng Nam, trước mặt là hồ nước trong xanh hình chữ nhật,
dưới hồ được thiết kế một toà tháp với pho tượng Đức Phật Di Lặc là biểu
hiện cho Đức Phật trong tương lai có Hoa sen thả xung quanh. Phía bên
trái và bên phải Bảo Tháp có hai hồ sen nhỏ được gọi là Thanh Tịnh Hồ,
hay còn gọi là Hồ Tẩy Trần. Đây là khu đất đắc địa đầy linh khí như một
đặc ân mà trời đất đã dành cho dân chúng trong vùng.Bảo tháp được xây
dựng 13 tầng với chiều cao 48m, tượng trưng cho 48 hạnh nguyện của Đức
Phật A Di Đà ở nơi thế gian và Phật Quan âm là người đã thực hiện các
hạnh nguyện của Đức A Di Đà nơi tại thế với tinh thần ĐẠI BI CHÚ và PHỔ
MÔN KINH. Cho nên có thể gọi là BẢO THÁP ĐẠI BI và PHỔ MÔN. Tháp có cấu
trúc phía bên ngoài là hình bát giác, 8 cạnh bằng nhau, phân bố theo 8
hướng: Đông – Tây – Nam - Bắc - Đông nam - Đông bắc - Tây nam và Tây
bắc.Tầng 1 có 3 cửa chính đi vào được bố trí trên 3 cạnh của bát giác,
tại mỗi cửa có hai vị Hộ pháp, Năm cạnh còn lại của mặt bên ngoài là
tượng Phật Quan thế âm. Tam Bảo đặt tại (tầng 1) chính giữa thờ Đức Bổn
sư Thích Ca Mâu Ni Phật trong tư thế đại định, bên trái là ngài Phổ Hiền
biểu lộ cho lòng từ bi, bên phải là ngài Văn Thù biểu lộ cho trí tuệ.
Mặt ngoài của tháp, từ tầng 2 đến tầng 12 có cấu trúc giống nhau diễn
bầy 84 pho tượng Phật trong đàn pháp ĐẠI BI là hóa thân của các chư vị
Bồ Tát. ....
Làng hoa lụa Báo Đáp (huyện Nam Trực) nằm cách thành phố Nam Định khoảng
chừng 10 km từ bao đời nay có tiếng với nghề làm lồng đèn trung thu và
hoa vải lụa. Báo Đáp hiện có 400 hộ sản xuất và kinh doanh hoa vải
lụa lớn nhỏ, trong đó phần lớn là các hộ có truyền thống lâu đời. Sản
phẩm của mỗi gia đình có mẫu mã riêng, không trùng lặp. Để đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng của thị trường, các cơ
sở sản xuất không ngừng làm mới, thay đổi mẫu mã
.
Những mẫu
hoa mới như phong lan, lan hồ điệp, hoa ly…được khách hàng ưa thích,
trong khi đó một số mẫu hoa truyền thống của làng vẫn đảm bảo duy trì
sản xuất như: hồng, sen, mai, đào,…Hoa vải lụa không chỉ đáp ứng được
những yêu cầu về thẩm mỹ, màu sắc không thua kém gì hoa thật mà còn có
giá trị sử dụng lâu dài và có giá cả hợp lý nên ngày càng được người
tiêu dùng ưa chuộng.Xác định đây là một trong những nghề truyền thống
lâu đời cần được gìn giữ và phát huy nên chính quyền địa phương đã tạo
mọi điều kiện cho làng nghề phát triển, mở rộng sản xuất, đầu tư cơ sở
máy móc, điện lưới ổn định nhằm phục vụ sản xuất của bà con. Bằng óc
sáng tạo và đôi bàn tay tài hoa những người thợ làng nghề làm hoa lụa
Báo Đáp đã tạo nên những sản phẩm mỹ nghệ góp phần làm đẹp cho đời, góp
phần giữ gìn nghề truyền thống và phát triển kinh tế địa phương. Người
dân Báo Đáp giờ đây đã yên ấm, làm giàu hơn trên chính mảnh đất quê
hương mình. Nguồn tin: http://vietnam.vnanet.vn/
Phố cổ Thành Nam hay phố cổ Nam Định là khu vực gồm các phố xá buôn bán nằm giữa sông Vị Hoàng xưa và hai mặt tường thành phía Đông và phía Nam của thành Nam Định thời Nguyễn. Nếu như Hà Nội xưa có 36 phố phường thì thành phố Nam Định cũng có đến hơn 40 phố cổ.Thành phố Nam Định có bề dày lịch sử hơn 750 năm . Chợ là nơi tiêu thụ tập trung nhiều hàng hoá, chợ ven sông là chợ Vị Hoàng, chợ Đò Chè, rồi chợ Cửa Trường. Chợ to, đông vui nhất là chợ Rồng, vì thế trên những con đường từ bờ sông vào chợ đã thành nơi sinh sống và sản xuất của các gia đình làm nghề thủ công. Từ chợ Rồng ra bờ sông Vị Hoàng là các phố Hàng Nón, Hàng Khay, Hàng Quỳ, Hàng Tiện (nay là Hàng Tiện), rồi đến Hàng Cấp (dệt các loại vải), Pháp đặt tên đường phố này là Henri Rivière. Ra bờ sông Vị Hoàng còn một đường phố gồm: Hàng Đường và Hàng Đồng hai phố này Pháp dịch là Rue du Cuivre nay là Hàng Đồng. Chợ Rồng lên phía bắc có phố Hàng Mắm, Hàng Gà, về sau hai phố này gọi là phố Móng Cáy (nay là Lý Thường Kiệt). Từ bờ sông vào chân tường thành có một dãy phố chạy song song với Hàng Đồng gồm: Hàng Thùng, Hàng Giấy, Hàng Mành, Hàng Cầm (nay là Bắc Ninh). Về phía nam thành phố, trên bờ sông có các phố bến thuyền như: Bến Củi, Pháp đặt là Rue Champeaux (nay là Ngô Quyền), Bến Gỗ, Pháp đặt là Rue Etat-Unis (nay là Phan Chu Trinh), phố Bến Thóc, Pháp đặt Hacrnamd. Lùi vào phía trong là phố Hàng Nồi, Pháp đặt là Rue de Paris (nay là Nguyễn Thiện Thuật). Song song với bờ sông Đào là phố Hàng Sũ, Hàng Ghế Pháp đặt là Cerculis, (nay là phố Phan Đình Phùng) và phố Hàng Thao Pháp đặt là Đồng Khánh (nay là phố Hàng Thao).
Từ trong thành đi ra sông Vị Hoàng là phố Cửa Đông, Pháp đặt là Rue de Carreau (nay là đoạn đầu từ ngã tư Trần Hưng Đạo đến gốc đa Hàng Sắt phố Lê Hồng Phong). Từ cửa Nam ra sông Đào gọi là phố Cửa Nam, Pháp đặt là Richaud (nay là đường Tô Hiệu), cổng phía bắc thành có phố Cửa Bắc (nay là Thành Chung). Thành Nam có cửa tây, nhưng không có phố Cửa Tây do ở phía này không có sông để vận chuyển hàng hoá (thời ấy giao thông đường thủy là chủ yếu). Về sau phía tây thành cũng không phát triển bởi tư bản Pháp đã chiếm vùng đất phía tây (Năng Tĩnh) để xây nhà máy Sợi.Con đường nối các phố với nhau chạy theo hướng bắc nam từ chợ Rồng xuống sông Đào gồm: Hàng Màn (Vải Màn), Hàng Rượu, Hàng Thiếc, Hàng Đàn, Pháp đặt là Rue France (nay thuộc Hai Bà Trưng) và Hàng Cau đặt là Jules Ferry. Song song với dãy phố này còn một dãy phố nữa gồm: Hàng Mã, Hàng Mũ (năm 1921 Pháp đặt là phố Hà Nội), tiếp đến Hàng Giấy, Phố Khách, Hàng Lọng, Hàng Dầu, Pháp đặt tên cho các phố này là Maréschal Foch (nay thuộc phố Hoàng Văn Thụ).
Các phường buôn, phường nghề ở với nhau trong cùng một dãy lập đền thờ tổ nghề, hay đình thờ thành hoàng bản quán (quê gốc), đây còn là nơi hội họp của phường hội. Phần lớn đền thờ tổ nghề nằm trong phố nghề. Những người làm nghề dệt (Hàng Cấp) từ Thăng Long xuống thì lập đền Voi Phục thờ thần Bạch Mã, đình Hàng Cấp (nay là trụ sở UBND phường Vị Hoàng). Các phố như: Hàng Bát, Hàng Tiện, Hàng Quỳ, Hàng Thiếc, Hàng Giấy, Hàng Đồng, Hàng Giầy, Hàng Nồi… đều có đền của phố nghề (phường nghề). Nhưng cũng có những đền như đền Hàng Bạc, đền Hàng Thêu, thực ra lại không có phố Hàng Bạc, Hàng Thêu riêng, bởi người làm nghề kim hoàn, buôn bán vàng bạc ở chung trong phố Hàng Rượu, nên đền Hàng Bạc dựng ở phố Hàng Rượu. Người làm nghề thêu tập trung ở đoạn đầu phố Hàng Thiếc và Cửa Đông nên đền Hàng Thêu được những người thợ thêu chung sức mua đất tại phố Cửa Đông dựng nên ...
Làng Bỉnh Di thuộc xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là làng nghề nấu rượu truyền thống đã có hàng trăm năm nay. .Người dân làng từ bao đời nay gắn bó với nghề nấu rượu và bí quyết gia truyền trong quy trình chọn gạo, ủ men đã chưng cất nên một loại rượu quê ngon nổi tiếng Rượu Bỉnh Di.
cũng như trải nghiệm với món “Tép xào lá chanh” hay “Gỏi tép xào” được chế biến từ những mẻ tép moi tươi rói do chính những người dân chài Hải Lý Hải Hậu Nam Định đây đánh bắt theo kiểu vô cùng độc đáo…
Nam Định vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, nơi lưu giữ bao di sản văn hóa tinh thần với những nét đặc trưng quyến rũ. Con người Nam Định tài hoa, tinh tế, hiếu khách và chính họ đã tạo dựng trên mảnh đất này những sản phẩm văn hóa phong phú, đặc sắc. Về Nam Định để tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng và thưởng thức đặc sản văn hóa ẩm thực đất thành Nam, đó là kẹo Sìu Châu
Nhà thơ Tú Xương bằng giọng thơ trào lộng đã lấy kẹo Sìu Châu để so sánh với cái “Mứt Rận” (bài Mứt Rận-1903) của mình:
Kẹo chú Thiều Châu, đâu đọ được
Bánh bà Hanh Tụ, cũng thua xa.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến khi về ở ẩn nơi quê nhà, có lần nhận được một cân kẹo Sìu Châu do học trò cũ là án sát Trần Tán Bình gửi biếu. Khi ấy đôi mắt nhà thơ đã bị lòa, thưởng thức hương vị đậm đà của món quà quý giá, cụ Tam nguyên Yên Đổ đã ứng khẩu thành thơ:
Nguyên phùng tả hữu lai vô tận
Hương dẫn Chi Lan nhập tức văn
(1906)
Đại ý: Ăn kẹo Sìu Châu thì cảm nhận được hương thơm vương giả như hoa Lan. Ăn vào nhận ra ngay vị thơm ngon, đặc sản của vùng quê Nam Định)
Thời chiến tranh chống Mỹ, ở chiến trường B có câu ca dao được các chiến sĩ truyền miệng cho nhau để mà vui, để mà cười:
Trèo lên trái núi Thiên Thai
Thấy hai con cọp đang nhai kẹo Sìu
Không phải ngẫu nhiên mà một món ăn địa phương lại đi vào thi ca từ bình dân đến văn chương bác học như vậy! Cụ Huy Vinh - nhà nghiên cứu phê bình văn học có tiếng ở Nam Định nhân dịp Tết đến, thưởng thức kẹo Sìu Châu đã ứng khẩu đôi câu đối:
Xuân có kẹo Sìu xuân đượm sắc
Tết còn thơ Vị tết Nguyên Hương
(1976)
Để nấu được kẹo Sìu Châu, người thợ cần có đôi tay tinh tế, phải “dẻo tay” để giữ nhiệt độ ổn định của bếp và khó nhất là biết ước lượng tỷ lệ đường, lạc, mạch nha phù hợp với mỗi mẻ nấu. Kẹo nấu trong thời gian ngắn, thao tác nhanh nên người thợ kinh nghiệm phải nắm được bí quyết hoán đường đến độ nào thì mới cho đường vào.
Gia đình nghệ nhân Đỗ Đình Thọ đến này vẫn giữ nguyên cách thức dùng chảo đồng để hoán đường vì sẽ không dính chảo, rồi cho ít nước hòa tan đường, đun sôi, cho mạch nha vào sắc tới đặc. Khi đường đủ độ, cho lạc rang vào đảo nhanh rồi bắc ra, đổ kẹo lên bàn. Trong vòng mười phút phải cán kẹo và cắt kẹo xong vì nếu kéo dài thời gian kẹo bị cứng, không cắt được.
Kẹo ra lò có sắc nâu hồng và trong như hổ phách, ăn giòn tan, thơm lừng, ngọt đậm để lại dư vị khó quên. Kẹo Sìu Châu còn độc đáo ở kỹ thuật khử mùi hôi của dầu lạc, để lâu không ỉu.
Ông Đỗ Đình Thọ, người gìn giữ, phát triển nghề gia truyền kẹo Sìu Châu Nguyên Hương của dòng họ Đỗ từ 200 năm trước đã được Nhà nước vinh danh “Nghệ nhân tiêu biểu của làng nghề Việt Nam”. Ông còn được tổ chức văn hóa, giáo dục và khoa học của Liên hiệp Quốc (UNESCO) coi là “Báu vật nhân văn sống”.
Sự vinh danh này không chỉ là niềm tự hào của cá nhân và gia đình nghệ nhân mà còn là niềm tự hào của người dân Nam Định về thương hiệu kẹo Sìu Châu - đặc sản quê hương, món quà tinh tế dành tặng du khách xa gần khi về đất thành Nam văn hiến.
Người làng Kênh vẫn truyền cho con cháu kinh nghiệm tráng bánh ngon: Gạo làm bánh là loại dẻo, bột không được ngâm quá lâu vì bánh sẽ chua, nhão, khi tráng thoa một lớp bột mỏng nhưng đều. Muốn bánh có độ dai, mỏng và giòn, để lâu bánh không bị cứng thì khi pha bột bánh thêm một lượng nhỏ bột dong. Trước đây khi tráng bánh người ta thường xếp bánh trên lá sen hoặc là chuối trông rất ngon mắt và chỉ chấm không với nước mắm. Ngày nay, khi ăn người ta thường cho thêm vài lát chả quế thơm vào cho đậm vị. Món ăn qua bao đời vẫn được người làng Kênh gìn giữ để hương vị không đổi theo thời gian, chiều lòng được cả những vị khách khó tính nhất.
Thiên Trường - Nam Định là mảnh đất có bề dày văn hiến. Thời Trần, cùng với Thăng Long - Hà Nội, năm 1281, nhà Trần cho lập Nhà học ở phủ Thiên Trường, chăm lo việc đào tạo, tuyển chọn nhân tài, chấn hưng đất nước. Khoa thi năm Đinh Mùi (1247), Nguyễn Hiền ( người huyện Thượng Nguyên sau thuộc phủ Thiên Trường) đỗ Trạng Nguyên khi mới 13 tuổi. Truyền thống hiếu học và học giỏi của người Nam Định được hình thành và phát triển cho tới ngày nay.
Mảnh đất Thiên Trường - Nam Định là nơi sản sinh, nuôi dưỡng nhiều nhân tài, danh nhân kiệt xuất cho đất nước. Thời Trần là các vị vua và tướng soái anh minh và anh hùng với những võ công, văn trị trác việt như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn...thời đại Hồ Chí Minh, Nam Định tự hào có nhiều chiến sĩ cách mạng tiền bối, nhiều nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân như Tổng Bí thư Trường Chinh; các đồng chí Trần Văn Lan, Lê Đức Thọ, Tống Văn Trân, Nguyễn Cơ Thạch, Song Hào...cùng nhiều tấm gương anh hùng trong lao động, sản xuất, chiến đấu; nhiều văn nghệ sỹ, trí thức tiêu biểu trong các thời kỳ đã cùng cả nước giữ gìn, phát huy truyền thống dân tộc quê hương.